Bài viết › 🤖 AI và bản quyền nội dung

Nội dung giả mạo không gắn nhãn AI: dùng nghĩa vụ gắn nhãn của Luật Trí tuệ nhân tạo và Nghị định 142/2026 khi khiếu nại

🗓️ 20/10/2026⏱️ 7 phút đọc✍️ Ban biên tập AI Bản Quyền

Khi gặp ảnh, video, giọng nói giả mạo bạn hoặc thương hiệu của bạn, việc nội dung đó không gắn nhãn AI là một căn cứ bổ sung khi khiếu nại. Bài chỉ ra ai có nghĩa vụ gắn nhãn, nhãn phải thế nào, trường hợp nào được miễn, và cách viết phần này trong báo cáo gửi nền tảng hoặc cơ quan chức năng.

Nếu bạn gặp ảnh, video hoặc giọng nói giả mạo bạn, người thân hay thương hiệu của bạn, việc nội dung đó không có nhãn "tạo bằng AI" là một căn cứ bổ sung đáng nêu khi khiếu nại. Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 (hiệu lực 01/03/2026) và Nghị định 142/2026/NĐ-CP (hiệu lực 01/05/2026) đặt nghĩa vụ đánh dấu kỹ thuật cho nhà cung cấp và nghĩa vụ gắn nhãn cho bên triển khai. Nhưng căn cứ này có phạm vi riêng: không phải ai đăng nội dung AI cũng có nghĩa vụ, và có nhãn không làm cho nội dung giả mạo trở nên hợp pháp.

Hai tầng nghĩa vụ: đánh dấu kỹ thuật và nhãn hiển thị

Đánh dấu kỹ thuậtThông báo, nhãn hiển thị
Ai phải làmNhà cung cấp hệ thống AIBên triển khai
Căn cứKhoản 2 Điều 11 Luật; Điều 17 Nghị định 142/2026Khoản 3, 4 Điều 11 Luật; Điều 18 Nghị định 142/2026
Áp dụng vớiĐầu ra âm thanh, hình ảnh, video; không bắt buộc với văn bản trừ khi pháp luật quy định khácNội dung có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực; nội dung mô phỏng ngoại hình, giọng nói người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế
Hình thứcĐịnh dạng máy đọc: trong cấu trúc tệp, siêu dữ liệu, chữ ký số hoặc giải pháp tương đươngNgười xem nhận biết được: trên nội dung, tiêu đề, mô tả, giao diện nền tảng, thông báo bằng âm thanh

Khi khiếu nại, cần nêu đúng tầng. Một video giả mạo không có nhãn hiển thị là vấn đề của bên đăng (nếu họ là bên triển khai). Một tệp ảnh không có dấu hiệu máy đọc có thể do nhà cung cấp chưa đánh dấu, hoặc do dấu hiệu đã bị mất khi tệp bị chụp lại, cắt, nén.

Ai là "bên triển khai": điểm dễ hiểu sai nhất

Khoản 5 Điều 3 Luật Trí tuệ nhân tạo định nghĩa bên triển khai là "tổ chức, cá nhân sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc phạm vi kiểm soát của mình trong hoạt động nghề nghiệp, thương mại hoặc cung cấp dịch vụ; không bao gồm trường hợp sử dụng cho mục đích cá nhân, phi thương mại".

Hệ quả khi khiếu nại:

  • Doanh nghiệp, cửa hàng, kênh có kiếm tiền, đơn vị quảng cáo dùng AI tạo nội dung đăng công khai: thường là bên triển khai, có nghĩa vụ gắn nhãn theo Điều 18 Nghị định 142/2026.
  • Cá nhân đăng cho vui, không thương mại: có thể không thuộc khái niệm bên triển khai, nên căn cứ "thiếu nhãn" yếu. Nhưng các căn cứ khác vẫn nguyên: quyền hình ảnh (Điều 32 Bộ luật Dân sự), danh dự uy tín (Điều 34), hành vi bị cấm tại Điều 7 Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật An ninh mạng.

Nhiều báo cáo viết "tài khoản này vi phạm nghĩa vụ gắn nhãn theo Luật Trí tuệ nhân tạo" cho mọi trường hợp. Viết như vậy với một tài khoản cá nhân phi thương mại dễ bị bác. Hãy nêu căn cứ phù hợp với từng đối tượng.

Nhãn phải thế nào mới đạt

Khoản 3 Điều 18 Nghị định 142/2026 yêu cầu thông báo và nhãn:

  1. Rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhận biết với người tiếp nhận;
  2. Được thực hiện trước hoặc tại thời điểm người tiếp nhận tiếp cận nội dung;
  3. Không được thiết kế theo cách che giấu hoặc làm giảm khả năng nhận biết bản chất của nội dung;
  4. Phù hợp với loại hình và phương thức cung cấp nội dung;
  5. Không gây cản trở đáng kể việc hiển thị, trình diễn, sử dụng nội dung.

Những kiểu "gắn nhãn" mà bạn có thể chỉ ra là không đạt khi khiếu nại: chữ "AI" cỡ nhỏ lẫn vào nền ở góc video; nhãn chỉ xuất hiện ở giây cuối cùng; nhãn đặt trong phần mô tả bị thu gọn mà người xem trên điện thoại không thấy; dòng chữ mập mờ kiểu "có chỉnh sửa" thay vì nói rõ nội dung do AI tạo hoặc mô phỏng người thật.

Khoản 5 Điều 18 cho bên triển khai chọn hình thức (trực tiếp trên nội dung, tại tiêu đề, mô tả, chú thích, trên giao diện nền tảng, bằng âm thanh), nên đừng khẳng định nhãn phải nằm đúng một vị trí nào. Hãy lập luận theo năm yêu cầu tại khoản 3.

Trường hợp được miễn gắn nhãn

Khoản 4 Điều 18 Nghị định 142/2026 miễn nghĩa vụ gắn nhãn hiển thị khi:

  • Nội dung chỉ được chỉnh sửa kỹ thuật để cải thiện chất lượng âm thanh, hình ảnh, video mà không đổi bản chất hoặc ngữ cảnh chính;
  • Văn bản được xử lý bằng công cụ sửa chính tả, ngữ pháp, tóm tắt, diễn giải, dịch thuật mà không làm sai lệch nội dung cơ bản;
  • Nội dung dùng nội bộ, không cung cấp ra công cộng;
  • Nội dung tạo trong nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm trong môi trường kiểm soát, không cung cấp ra công cộng.

Với tác phẩm điện ảnh, chương trình nghệ thuật, nội dung sáng tạo, khoản 6 Điều 18 cho phép gắn nhãn ở phần mở đầu, kết thúc, danh đề, mô tả hoặc tài liệu kèm theo. Một phim ngắn có dòng ghi chú ở phần danh đề cuối có thể đã đáp ứng nghĩa vụ, nên trước khi khiếu nại hãy xem hết nội dung.

Cắt bỏ nhãn: căn cứ mạnh hơn cả thiếu nhãn

Khoản 5 Điều 7 Luật Trí tuệ nhân tạo cấm "tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo". Một kịch bản thường gặp: nội dung giả mạo ban đầu được đăng có nhãn ở nơi khác, rồi bị tải về, cắt nhãn và phát tán lại như thật. Nếu tìm được bản gốc có nhãn, lưu cả hai bản cạnh nhau: đây là bằng chứng hành vi chủ động làm sai lệch nhãn.

Với ảnh, video, cũng nên kiểm siêu dữ liệu tệp bạn tải về. Theo Điều 17 Nghị định 142/2026, dấu hiệu máy đọc thể hiện thông tin xác nhận nội dung được tạo hoặc chỉnh sửa bằng AI, có thể kèm thông tin nhà cung cấp, thời điểm tạo. Dấu hiệu còn trong tệp là bằng chứng tốt; không còn thì chưa kết luận được gì.

Viết phần "nhãn AI" trong báo cáo thế nào

Đặt căn cứ gắn nhãn làm căn cứ bổ sung, sau căn cứ chính (quyền hình ảnh, quyền tác giả, danh dự uy tín, mạo danh). Mẫu đoạn văn:

"Nội dung tại địa chỉ … là video do trí tuệ nhân tạo tạo ra, mô phỏng ngoại hình và giọng nói của [họ tên] mà không có sự đồng ý của người này (Điều 32 Bộ luật Dân sự). Tài khoản đăng tải là trang bán hàng [tên], sử dụng video để quảng cáo sản phẩm. Video không có thông báo hoặc nhãn nhận biết nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra hoặc mô phỏng người thật, trái với khoản 4 Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 và khoản 2 Điều 18 Nghị định 142/2026/NĐ-CP. Đề nghị gỡ bỏ nội dung."

Ba yếu tố khiến đoạn này thuyết phục: chỉ rõ nội dung mô phỏng ai; chỉ ra bên đăng hoạt động thương mại (thuộc khái niệm bên triển khai); nêu đúng điều khoản.

Các kênh gửi và chứng cứ cần kèm

  1. Nền tảng: mục báo cáo mạo danh, quyền riêng tư hoặc nội dung tổng hợp. Ví dụ, hướng dẫn quyền riêng tư của YouTube xem xét cả việc nội dung "có được thông báo cho người xem là thay đổi hoặc tổng hợp hay không" khi đánh giá yêu cầu gỡ (trang hướng dẫn).
  2. Cơ quan chức năng: với nội dung giả mạo nhằm lừa đảo, gây tổn hại nghiêm trọng. Khoản 1 Điều 29 Luật Trí tuệ nhân tạo dẫn chiếu xử phạt hành chính, truy cứu hình sự, bồi thường dân sự tùy tính chất, mức độ. Luật An ninh mạng 116/2025/QH15 (hiệu lực 01/07/2026), điểm g khoản 2 Điều 7, cấm dùng AI giả mạo video, hình ảnh, giọng nói người khác trái pháp luật.
  3. Sự cố liên quan tới chính hệ thống AI: Điều 12 Luật Trí tuệ nhân tạo quy định báo cáo, xử lý sự cố qua Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo. Kênh này dành cho sự cố nghiêm trọng của hệ thống, không phải kênh khiếu nại từng bài đăng.

Chứng cứ kèm theo: bản lưu nội dung (tải video, chụp màn hình toàn trang có địa chỉ, thời điểm); thông tin tài khoản đăng; dấu hiệu hoạt động thương mại (giá bán, liên kết mua hàng); bản gốc có nhãn nếu có; siêu dữ liệu tệp.

Lưu ý về thời hạn chuyển tiếp

Khoản 1 Điều 35 Luật Trí tuệ nhân tạo cho hệ thống AI đã hoạt động trước 01/03/2026 thời hạn tuân thủ: 18 tháng với lĩnh vực y tế, giáo dục, tài chính; 12 tháng với hệ thống khác, kể từ ngày luật có hiệu lực. Nghĩa vụ đánh dấu kỹ thuật của một số nhà cung cấp có thể còn trong thời gian chuyển tiếp. Khi khiếu nại, tập trung vào nghĩa vụ của bên đăng nội dung và các căn cứ quyền nhân thân, thay vì khẳng định nhà cung cấp công cụ đã vi phạm.

Nghĩa vụ gắn nhãn được đặt ra để người xem phân biệt thật giả. Với người bị giả mạo, nó là thêm một điểm tựa khi đòi gỡ, đặc biệt với nội dung quảng cáo. Dùng nó đúng chỗ, cùng các căn cứ chính, thì báo cáo của bạn có trọng lượng hơn nhiều so với một dòng "video này là giả".

Câu hỏi thường gặp

Ai có nghĩa vụ gắn nhãn nội dung do AI tạo ra?

Luật Trí tuệ nhân tạo chia hai nhóm: nhà cung cấp hệ thống AI phải bảo đảm âm thanh, hình ảnh, video được đánh dấu ở định dạng máy đọc (khoản 2 Điều 11); bên triển khai phải thông báo, gắn nhãn khi đưa nội dung ra công cộng trong các trường hợp luật nêu (khoản 3, 4 Điều 11). Theo khoản 5 Điều 3, bên triển khai là người dùng hệ thống AI trong hoạt động nghề nghiệp, thương mại hoặc cung cấp dịch vụ, không bao gồm sử dụng cho mục đích cá nhân, phi thương mại.

Trường hợp nào bắt buộc gắn nhãn dễ nhận biết?

Theo khoản 2 Điều 18 Nghị định 142/2026/NĐ-CP, bên triển khai phải gắn nhãn dễ nhận biết với âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng AI khi mô phỏng, giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật, hoặc tái hiện sự kiện thực tế. Ngoài ra khoản 1 yêu cầu thông báo rõ ràng khi nội dung có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật hoặc nguồn gốc.

Nội dung đã gắn nhãn thì bạn có còn khiếu nại được không?

Được. Gắn nhãn chỉ đáp ứng nghĩa vụ minh bạch. Việc dùng hình ảnh của người khác vẫn cần sự đồng ý theo Điều 32 Bộ luật Dân sự; dùng tác phẩm của người khác vẫn cần phép của chủ sở hữu quyền tác giả. Thiếu nhãn là căn cứ bổ sung, có nhãn không xóa các căn cứ khác.

Cắt bỏ nhãn AI của người khác có vi phạm không?

Khoản 5 Điều 7 Luật Trí tuệ nhân tạo cấm tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo. Nếu bạn phát hiện nội dung giả mạo đã bị cắt nhãn gốc, hãy lưu cả bản có nhãn (nếu tìm được) và bản đã bị cắt để làm chứng cứ.

Hệ thống AI hoạt động trước khi luật có hiệu lực có phải tuân thủ ngay không?

Theo khoản 1 Điều 35 Luật Trí tuệ nhân tạo, hệ thống đã hoạt động trước 01/03/2026 có thời hạn để tuân thủ: 18 tháng với lĩnh vực y tế, giáo dục, tài chính và 12 tháng với các hệ thống khác, kể từ ngày luật có hiệu lực. Khi khiếu nại một dịch vụ cụ thể, nên lưu ý mốc này thay vì khẳng định họ đã vi phạm.

Bài viết mang tính thông tin, dẫn theo văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm cập nhật (03/11/2026); không thay thế ý kiến tư vấn của luật sư cho vụ việc cụ thể.

Đọc thêm