Deepfake dùng giọng nói, khuôn mặt của bạn: vì sao bản quyền không phải công cụ duy nhất và nên đi đường nào

Video giả khuôn mặt, giọng nói của bạn thường không xâm phạm quyền tác giả của ai, nên yêu cầu gỡ theo bản quyền dễ bị từ chối. Bài chỉ ra các căn cứ đúng hơn: quyền đối với hình ảnh (Điều 32 Bộ luật Dân sự), Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật An ninh mạng 2025 và kênh báo cáo quyền riêng tư của nền tảng.
Khi một video giả khuôn mặt hoặc giọng nói của bạn xuất hiện, phản xạ đầu tiên của nhiều người là gửi yêu cầu gỡ vì vi phạm bản quyền. Cách này hay thất bại: khuôn mặt và giọng nói của một người không phải là tác phẩm, nên thường không có quyền tác giả nào bị xâm phạm. Căn cứ đúng hơn là quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32 Bộ luật Dân sự), quyền được bảo vệ danh dự, uy tín (Điều 34), các quy định mới của Luật Trí tuệ nhân tạo và Luật An ninh mạng, cùng kênh báo cáo quyền riêng tư của chính nền tảng.
Khi nào bản quyền dùng được, khi nào không
| Tình huống | Bản quyền có dùng được không | Căn cứ phù hợp hơn |
|---|---|---|
| Kẻ xấu cắt đoạn video bạn tự quay, ghép mặt người khác vào | Có, với phần video gốc của bạn | Quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh, ghi hình; kèm quyền hình ảnh |
| AI tạo video mới hoàn toàn mang khuôn mặt bạn, dựa trên ảnh hồ sơ | Yếu, trừ khi ảnh gốc do bạn chụp và bị dùng nguyên | Quyền đối với hình ảnh (Điều 32 Bộ luật Dân sự) |
| Giọng bạn bị nhân bản để đọc quảng cáo | Không, giọng nói không phải tác phẩm | Quyền nhân thân theo Bộ luật Dân sự; quy định gắn nhãn của Luật Trí tuệ nhân tạo; pháp luật về quảng cáo |
| Ca sĩ bị AI tạo bản thu "hát" bài khác | Phụ thuộc: bản thu gốc có bị dùng không | Quyền liên quan của người biểu diễn nếu có dùng bản định hình; quyền hình ảnh, danh dự |
| Video giả mạo bạn nói điều sai sự thật | Không | Điều 34 Bộ luật Dân sự; Luật An ninh mạng 2025 |
Nếu gửi yêu cầu gỡ theo bản quyền cho trường hợp không có tác phẩm nào bị lấy, bạn vừa bị từ chối, vừa có nguy cơ bị coi là khai sai. Theo DMCA (luật bản quyền Mỹ mà nhiều nền tảng áp dụng), §512(f) quy định trách nhiệm bồi thường với người cố ý khai sai trong thông báo (nguyên văn). Ở Việt Nam, khoản 6 Điều 114 Nghị định 17/2023 cũng buộc bên cung cấp tài liệu sai sự thật chịu trách nhiệm pháp lý.
Căn cứ 1: quyền đối với hình ảnh và danh dự trong Bộ luật Dân sự
Khoản 1 Điều 32 Bộ luật Dân sự: "Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý." Dùng hình ảnh người khác vì mục đích thương mại phải trả thù lao, trừ khi có thỏa thuận khác. Khoản 2 nêu hai ngoại lệ không cần đồng ý: vì lợi ích quốc gia, dân tộc, công cộng; và hình ảnh từ hoạt động công cộng (hội nghị, thi đấu, biểu diễn…) mà không làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín. Deepfake gần như luôn nằm ngoài hai ngoại lệ này, vì nó tạo ra hình ảnh bạn ở hoàn cảnh không có thật.
Khoản 3 Điều 32 cho bạn quyền yêu cầu Tòa án buộc người vi phạm và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại.
Điều 34 bổ sung khi deepfake bôi nhọ: thông tin ảnh hưởng xấu tới danh dự, uy tín đăng trên phương tiện nào thì phải gỡ bỏ, cải chính trên phương tiện đó (khoản 3); không xác định được người đưa tin thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó không đúng (khoản 4); ngoài ra có quyền yêu cầu xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường (khoản 5). Khoản 4 đặc biệt hữu ích với deepfake phát tán từ tài khoản ẩn danh.
Căn cứ 2: Luật Trí tuệ nhân tạo và Nghị định 142/2026
Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/03/2026. Các điều liên quan trực tiếp:
- Khoản 4 Điều 11: bên triển khai phải bảo đảm âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng AI "nhằm mô phỏng, giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế phải được gắn nhãn dễ nhận biết để phân biệt với nội dung thật".
- Điểm b khoản 2 Điều 7: cấm phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng hệ thống AI nhằm "sử dụng yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối hoặc thao túng nhận thức, hành vi của con người một cách có chủ đích và có hệ thống, gây tổn hại nghiêm trọng".
- Khoản 5 Điều 7: cấm tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc.
- Khoản 1 Điều 29: vi phạm thì tùy tính chất, mức độ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; gây thiệt hại phải bồi thường theo pháp luật dân sự.
Nghị định 142/2026/NĐ-CP (hiệu lực 01/05/2026) chi tiết hóa: khoản 2 Điều 18 buộc gắn nhãn dễ nhận biết với nội dung mô phỏng ngoại hình, giọng nói người thật; khoản 3 yêu cầu nhãn rõ ràng, có trước hoặc tại thời điểm người xem tiếp cận nội dung, không được thiết kế để che giấu. Điều 17 buộc nhà cung cấp hệ thống AI đánh dấu kỹ thuật ở định dạng máy đọc đối với đầu ra là âm thanh, hình ảnh, video.
Ý nghĩa thực tế khi khiếu nại: một deepfake mô phỏng bạn mà không gắn nhãn, hoặc nhãn bị cắt bỏ, cho bạn thêm một căn cứ để nêu trong báo cáo gửi nền tảng và cơ quan chức năng. Nhưng đừng nhầm: có nhãn không làm cho việc dùng hình ảnh của bạn trở nên hợp pháp. Điều 32 Bộ luật Dân sự vẫn yêu cầu sự đồng ý.
Căn cứ 3: Luật An ninh mạng 2025
Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 (hiệu lực 01/07/2026), điểm g khoản 2 Điều 7, liệt kê hành vi bị nghiêm cấm: "Sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói của người khác trái quy định của pháp luật". Điểm h khoản 3 Điều 13 xếp "mạo danh, giả mạo thông tin, hình ảnh, giọng nói của cá nhân, gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của cá nhân" vào nhóm thông tin xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân. Đây là căn cứ phù hợp khi bạn trình báo cơ quan công an, đặc biệt với deepfake dùng để lừa tiền người quen của bạn.
Căn cứ 4: kênh báo cáo của nền tảng
Phần lớn deepfake được gỡ nhanh nhất qua kênh quyền riêng tư hoặc mạo danh của nền tảng, không phải kênh bản quyền.
YouTube
Hướng dẫn quyền riêng tư của YouTube cho phép báo cáo khi ai đó "dùng AI để thay đổi hoặc tạo nội dung tổng hợp trông giống hoặc nghe giống bạn", với điều kiện nội dung thể hiện phiên bản thay đổi hoặc tổng hợp chân thực về hình ảnh của bạn (trang hướng dẫn). YouTube cân nhắc: nội dung có bị thay đổi, tổng hợp không; có được thông báo cho người xem là tổng hợp không; bạn có nhận diện được riêng không; có chân thực không; có tính chế giễu, châm biếm hoặc giá trị công cộng không; có phải người nổi tiếng trong hành vi nhạy cảm không. Yêu cầu phải là của chính người bị ảnh hưởng, trừ ngoại lệ như cha mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp.
Google Tìm kiếm
Với hình ảnh khiêu dâm giả mạo, Google có chính sách gỡ khỏi kết quả tìm kiếm nội dung "giả mạo cho thấy bạn trong hành vi tình dục hoặc trạng thái thân mật" được tạo bằng chỉnh sửa ảnh và công nghệ AI, với điều kiện bạn là người có thể nhận diện và nội dung phát tán không có sự đồng ý của bạn (trang chính sách). Gỡ khỏi kết quả tìm kiếm không xóa nội dung ở trang gốc, nhưng giảm mạnh khả năng người khác tìm thấy.
Nền tảng khác
Mạng xã hội lớn đều có mục báo cáo mạo danh hoặc quyền riêng tư. Tên biểu mẫu thay đổi thường xuyên; hãy tìm trong trung tâm trợ giúp của nền tảng mục "mạo danh", "quyền riêng tư", "nội dung tổng hợp".
Thứ tự xử lý khi phát hiện deepfake
- Lưu bằng chứng trước khi báo cáo: tải bản sao video, chụp màn hình trang có đường link, tên tài khoản, số lượt xem, bình luận, thời điểm. Nếu dự định khởi kiện, cân nhắc lập vi bằng; điểm d khoản 1 Điều 78 Nghị định 17/2023 cũng coi vi bằng là một loại chứng cứ.
- Báo cáo qua kênh quyền riêng tư, mạo danh của nền tảng, nêu rõ nội dung mô phỏng bạn và không được gắn nhãn (nếu đúng vậy).
- Nếu có tác phẩm của bạn bị dùng làm nguyên liệu (video, ảnh bạn tự tạo), gửi thêm yêu cầu gỡ theo quyền tác giả cho riêng phần đó.
- Cảnh báo người quen nếu deepfake dùng giọng bạn để vay tiền, nhờ chuyển khoản.
- Trình báo cơ quan công an nếu có dấu hiệu lừa đảo, tống tiền, hoặc nội dung nghiêm trọng.
- Tham vấn luật sư nếu muốn yêu cầu Tòa án theo Điều 32, Điều 34 Bộ luật Dân sự, hoặc đòi bồi thường.
Phòng trước: giảm nguyên liệu cho kẻ làm giả
- Hạn chế đăng công khai các đoạn ghi âm giọng nói dài, rõ, ít tạp âm.
- Thống nhất với gia đình một câu hỏi xác minh khi có cuộc gọi "khẩn cấp" vay tiền.
- Nếu là người làm nội dung thường xuất hiện trước ống kính, ghi rõ trên kênh chính thức rằng bạn không bao giờ kêu gọi chuyển tiền qua tài khoản cá nhân lạ.
- Gắn thông tin quản lý quyền, siêu dữ liệu tác giả vào video, ảnh gốc của bạn: khi deepfake được cắt từ đó, việc chứng minh nguồn gốc dễ hơn.
Deepfake là vấn đề của quyền nhân thân trước khi là vấn đề bản quyền. Chọn đúng căn cứ ngay từ báo cáo đầu tiên giúp bạn tiết kiệm nhiều ngày qua lại với bộ phận xử lý của nền tảng.
Câu hỏi thường gặp
Video deepfake dùng mặt mình có vi phạm bản quyền không?
Thường là không, vì khuôn mặt hay giọng nói của một người không phải tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Bản quyền chỉ dùng được khi deepfake được dựng từ một tác phẩm cụ thể của bạn, ví dụ cắt từ video bạn tự quay hoặc ảnh bạn tự chụp. Căn cứ chính cho phần khuôn mặt là quyền của cá nhân đối với hình ảnh tại Điều 32 Bộ luật Dân sự.
Luật Trí tuệ nhân tạo có quy định gì về video giả người thật?
Khoản 4 Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo 134/2025/QH15 buộc bên triển khai bảo đảm âm thanh, hình ảnh, video mô phỏng ngoại hình, giọng nói người thật phải được gắn nhãn dễ nhận biết. Khoản 2 Điều 7 cấm dùng hệ thống AI để giả mạo hoặc mô phỏng người thật nhằm lừa dối, thao túng có chủ đích và có hệ thống gây tổn hại nghiêm trọng. Điều 18 Nghị định 142/2026/NĐ-CP chi tiết cách gắn nhãn.
Deepfake đã gắn nhãn "tạo bằng AI" thì có hợp pháp không?
Gắn nhãn chỉ là một nghĩa vụ minh bạch, không biến việc sử dụng hình ảnh người khác thành hợp pháp. Điều 32 Bộ luật Dân sự vẫn yêu cầu có sự đồng ý của người có hình ảnh, trừ các ngoại lệ hẹp; dùng vì mục đích thương mại còn phải trả thù lao. Nội dung làm tổn hại danh dự, uy tín còn bị điều chỉnh bởi Điều 34 Bộ luật Dân sự.
Báo cáo deepfake trên YouTube bằng biểu mẫu nào?
YouTube có hướng dẫn quyền riêng tư cho phép báo cáo nội dung dùng AI để tạo phiên bản thay đổi hoặc tổng hợp trông giống hoặc nghe giống bạn. Yêu cầu phải do chính người bị ảnh hưởng gửi, trừ một số ngoại lệ như cha mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp. YouTube xem xét các yếu tố như nội dung có được thông báo là tổng hợp không, người đó có nhận diện được không, có tính chế giễu, châm biếm hay giá trị công cộng không.
Có nên trình báo công an không?
Nên cân nhắc khi deepfake dùng để lừa đảo, tống tiền, hoặc có nội dung nhạy cảm gây tổn hại nghiêm trọng. Luật An ninh mạng 116/2025/QH15 (hiệu lực 01/07/2026) liệt kê việc sử dụng AI để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói của người khác trái pháp luật là hành vi bị nghiêm cấm. Mang theo bản lưu trữ nội dung, đường link, thông tin tài khoản phát tán và mọi tin nhắn liên quan.
Bài viết mang tính thông tin, dẫn theo văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm cập nhật (03/11/2026); không thay thế ý kiến tư vấn của luật sư cho vụ việc cụ thể.
