Bài viết › 🌐 Bảo vệ website và bài viết

Bài viết do cộng tác viên, người viết thuê, nhân viên làm: ai là chủ sở hữu và hợp đồng cần ghi gì để còn quyền đi khiếu nại

🗓️ 20/10/2026⏱️ 8 phút đọc✍️ Ban biên tập AI Bản Quyền

Theo Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức giao nhiệm vụ cho nhân viên và bên giao kết hợp đồng với tác giả là chủ sở hữu quyền tài sản, trừ khi có thoả thuận khác. Nhưng khi đi khiếu nại, bạn phải chứng minh được điều đó bằng giấy tờ. Bài này chỉ ra những chỗ hợp đồng viết bài hay hở và mẫu điều khoản nên có.

Bài viết do nhân viên làm theo nhiệm vụ được giao thì tổ chức giao nhiệm vụ là chủ sở hữu quyền tài sản; bài do cộng tác viên, người viết thuê làm theo hợp đồng thì bên giao kết hợp đồng là chủ sở hữu — cả hai trường hợp đều "trừ trường hợp có thoả thuận khác", theo Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ (hợp nhất 2026). Tác giả vẫn giữ các quyền nhân thân như quyền đứng tên. Vấn đề thực tế không nằm ở luật mà ở chứng cứ: khi gửi yêu cầu gỡ, bạn phải chứng minh mình là chủ thể quyền, và một thoả thuận qua tin nhắn thường không đủ.

Điều 39 nói gì, nguyên văn

1. Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Ba chi tiết cần đọc kỹ:

  • Khoản 1 chỉ nói "tổ chức" và "người thuộc tổ chức mình". Một cá nhân chủ blog thuê người khác viết không rơi vào khoản 1 mà rơi vào khoản 2 — tức phải có hợp đồng với tác giả.
  • Khoản 1 gắn với "giao nhiệm vụ". Bài nhân viên tự viết ngoài phạm vi công việc được giao, trên blog cá nhân, không đương nhiên thuộc công ty. Phạm vi nhiệm vụ nên được ghi trong hợp đồng lao động, bản mô tả công việc hoặc văn bản giao việc.
  • Thứ chuyển sang chủ sở hữu là quyền tài sản tại Điều 20 và quyền công bố tại khoản 3 Điều 19 — không phải toàn bộ quyền tác giả.

Những gì tác giả vẫn giữ

Điều 19 liệt kê bốn quyền nhân thân: đặt tên tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh và được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Khoản 2 Điều 45 quy định tác giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân, trừ quyền công bố. Khoản 2 Điều 47 quy định tác giả không được chuyển quyền sử dụng quyền đứng tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn.

Hệ quả thực tế với website:

  • Quyền được nêu tên: người viết có quyền được nêu tên thật hoặc bút danh. Những thoả thuận viết thuê kiểu "người viết cam kết không bao giờ nhận là tác giả" chạm tới quyền nhân thân không chuyển nhượng được; với từng trường hợp cụ thể nên hỏi luật sư cách ghi để giảm rủi ro tranh chấp, ví dụ thoả thuận về cách thức và vị trí nêu tên.
  • Quyền bảo vệ sự toàn vẹn: biên tập viên được sửa bài, nhưng theo khoản 4 Điều 19, tác giả có quyền không cho người khác sửa đổi, cắt xén gây phương hại đến danh dự và uy tín của mình. Ghi rõ trong hợp đồng phạm vi biên tập được chấp nhận.
  • Quyền đặt tên tác phẩm: theo khoản 1 Điều 19, tác giả có thể chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên cho bên nhận chuyển giao quyền tài sản. Với website hay đổi tiêu đề bài để tối ưu tìm kiếm, nên ghi điều này vào hợp đồng.

Vì sao "trừ trường hợp có thoả thuận khác" là chỗ hở lớn nhất

Cụm từ này cho phép các bên thoả thuận ngược lại. Những nơi "thoả thuận khác" hay nằm mà chủ website không để ý:

  • Điều khoản của nền tảng tìm người làm tự do nơi bạn thuê người viết.
  • Bảng điều kiện dịch vụ của chính người viết hoặc công ty nội dung (thường giữ quyền dùng bài làm hồ sơ năng lực, hoặc chỉ cấp phép chứ không chuyển nhượng).
  • Báo giá, thư trao đổi có câu "bên B được phép đăng lại trên kênh của mình".

Đọc lại tất cả trước khi coi mình là chủ sở hữu duy nhất.

Chủ sở hữu thì phải chứng minh thế nào khi khiếu nại

Khi yêu cầu doanh nghiệp trung gian gỡ nội dung theo Điều 114 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, hồ sơ phải có chứng cứ chứng minh chủ thể quyền theo Điều 77 của Nghị định. Với tác phẩm chưa đăng ký, khoản 2 Điều 77 chấp nhận bản gốc, bản sao có nêu tên chủ thể quyền và các tài liệu khác chứng minh việc tạo ra, công bố tác phẩm. Khi tên đứng trên bài là tên cộng tác viên còn bên khiếu nại là công ty, giả định quyền tại Điều 198a nghiêng về người được nêu tên — bạn phải đưa thêm hợp đồng hoặc văn bản giao nhiệm vụ để chứng minh quyền thuộc về mình.

Đặc biệt lưu ý khoản 3 Điều 77: người yêu cầu là người được chuyển giao quyền phải xuất trình "bản gốc hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hoặc hợp pháp hóa lãnh sự" của hợp đồng chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng. Một hợp đồng chỉ có bản chụp màn hình tin nhắn sẽ yếu. Ngoài ra, nếu bạn nhờ người khác (dịch vụ, luật sư) đứng ra khiếu nại thay, khoản 2 Điều 76 yêu cầu văn bản ủy quyền có công chứng hoặc chứng thực khi gửi đơn tới cơ quan xử lý.

Tình huốngAi là chủ sở hữu quyền tài sảnGiấy tờ cần có khi khiếu nại
Nhân viên biên tập viết bài theo phân côngTổ chức giao nhiệm vụ, trừ thoả thuận khácHợp đồng lao động, mô tả công việc hoặc văn bản giao việc; bản nháp, lịch sử đăng bài
Cộng tác viên viết theo đơn đặt bàiBên giao kết hợp đồng, trừ thoả thuận khácHợp đồng bằng văn bản có điều khoản quyền tác giả, biên bản nghiệm thu, chứng từ thanh toán
Mua bài viết sẵn từ người khácNgười viết, cho tới khi có hợp đồng chuyển nhượngHợp đồng chuyển nhượng bằng văn bản theo Điều 46
Nhân viên tự viết ngoài giờ, ngoài nhiệm vụThường là chính nhân viênCông ty chỉ có quyền nếu có thoả thuận chuyển giao

Hợp đồng viết bài cần ghi gì

Điều 46 Luật Sở hữu trí tuệ yêu cầu hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả lập thành văn bản với các nội dung chủ yếu: tên, địa chỉ đầy đủ của các bên; căn cứ chuyển nhượng; giá, phương thức thanh toán; quyền và nghĩa vụ; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Hợp đồng sử dụng quyền theo Điều 48 thêm mục phạm vi chuyển giao quyền. Với hợp đồng đặt viết bài, nên có thêm:

  1. Xác định tác phẩm: danh sách bài hoặc cách xác định (mọi bài giao qua hệ thống quản trị dưới tài khoản người viết trong thời hạn hợp đồng).
  2. Chuyển nhượng hay chỉ cấp phép: ghi rõ. Nếu muốn toàn quyền đi khiếu nại, chuyển nhượng các quyền tại khoản 1 Điều 20 và khoản 3 Điều 19.
  3. Phạm vi quyền: làm tác phẩm phái sinh (dịch, chuyển thành video), sao chép, truyền đạt đến công chúng qua mọi kênh số; không giới hạn lãnh thổ nếu website có độc giả nước ngoài.
  4. Cách nêu tên tác giả: tên thật, bút danh hay tên chung của ban biên tập — đã thống nhất với người viết.
  5. Quyền biên tập và đổi tiêu đề: phạm vi sửa được chấp nhận, quyền sử dụng quyền đặt tên.
  6. Cam kết nguyên gốc: bài do người viết tự sáng tạo, không sao chép; nêu rõ có dùng công cụ trí tuệ nhân tạo hay không và ở mức nào, vì việc xác lập quyền với phần do trí tuệ nhân tạo tạo ra được khoản 5 Điều 6 của Luật giao Chính phủ quy định riêng.
  7. Nghĩa vụ hợp tác khi có tranh chấp: người viết lưu và cung cấp bản nháp, lịch sử chỉnh sửa khi được yêu cầu; ký xác nhận khi cần làm hồ sơ.
  8. Ủy quyền bảo vệ quyền: khoản 1a Điều 198 cho phép chủ thể quyền ủy quyền cho người khác áp dụng các biện pháp tự bảo vệ. Nếu người viết giữ lại một phần quyền, nên có điều khoản cho phép bên đặt bài thay mặt đi khiếu nại.
  9. Quyền dùng lại của người viết: được trích một đoạn làm hồ sơ năng lực có dẫn liên kết về bài gốc, không được đăng lại toàn văn.
  10. Hình thức ký: ký tay hoặc ký điện tử. Luật Giao dịch điện tử 2023 tại Điều 8 quy định thông tin không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu; Điều 9 cho thông điệp dữ liệu giá trị như văn bản khi truy cập và sử dụng được để tham chiếu.

Ba tình huống hay gặp

Ví dụ 1: một cửa hàng đồ gốm ở Bát Tràng thuê sinh viên viết 30 bài qua tin nhắn, trả tiền chuyển khoản, không có hợp đồng. Bài bị một trang khác chép. Cửa hàng vẫn có thể lập luận là bên giao kết hợp đồng theo khoản 2 Điều 39, nhưng hồ sơ sẽ phải ghép từ tin nhắn, chứng từ chuyển khoản và xác nhận của người viết. Cách khắc phục là ký bổ sung một văn bản xác nhận quyền với người viết càng sớm càng tốt.

Ví dụ 2: nhân viên nghỉ việc, đăng lại toàn bộ bài đã viết cho công ty lên blog riêng. Nếu các bài đó thuộc nhiệm vụ được giao và không có thoả thuận khác, quyền tài sản thuộc công ty; việc đăng lại là sao chép, truyền đạt không được phép. Nhân viên vẫn có quyền được nêu tên trên các bài đó.

Ví dụ 3: công ty nội dung bán gói bài cho website nhưng điều kiện dịch vụ ghi chỉ "cấp quyền sử dụng". Website không phải chủ sở hữu; muốn tự đi khiếu nại phải được ủy quyền hoặc nhờ công ty nội dung đứng ra.

Làm hợp đồng đúng từ đầu tốn một buổi; ghép hồ sơ chứng minh quyền sau khi bị chép tốn nhiều hơn thế, và có khi không ghép được.

Câu hỏi thường gặp

Thuê người viết bài thì bài viết thuộc về ai?

Theo khoản 2 Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả là chủ sở hữu quyền tài sản và quyền công bố, trừ khi có thoả thuận khác. Người viết vẫn giữ quyền nhân thân như quyền đứng tên và bảo vệ sự toàn vẹn của bài.

Nhân viên tự viết bài ngoài giờ có thuộc về công ty không?

Không đương nhiên. Khoản 1 Điều 39 chỉ áp dụng cho tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ tổ chức giao. Bài nằm ngoài phạm vi công việc thường thuộc chính nhân viên, trừ khi có thoả thuận chuyển giao.

Thoả thuận qua tin nhắn có đủ để đi khiếu nại không?

Thường là yếu. Khoản 3 Điều 77 Nghị định 17/2023 yêu cầu người được chuyển giao quyền xuất trình bản gốc hoặc bản sao có công chứng, chứng thực của hợp đồng. Nên ký bổ sung một văn bản xác nhận quyền với người viết, ký tay hoặc ký điện tử.

Có thể thoả thuận để người viết thuê không bao giờ đứng tên không?

Quyền đứng tên là quyền nhân thân không chuyển nhượng được theo khoản 2 Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ, nên thoả thuận kiểu này tiềm ẩn tranh chấp. Nên thống nhất cách nêu tên như bút danh hay tên ban biên tập và hỏi luật sư cách ghi cho trường hợp cụ thể.

Hợp đồng viết bài nên có điều khoản nào để dễ đi khiếu nại?

Nên có điều khoản chuyển nhượng rõ các quyền tại khoản 1 Điều 20, cam kết nguyên gốc, nghĩa vụ người viết cung cấp bản nháp khi có tranh chấp, và ủy quyền cho bên đặt bài thay mặt bảo vệ quyền theo khoản 1a Điều 198. Hợp đồng phải lập thành văn bản theo Điều 46.

Bài viết mang tính thông tin, dẫn theo văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm cập nhật (02/11/2026); không thay thế ý kiến tư vấn của luật sư cho vụ việc cụ thể.

Đọc thêm