Ảnh chụp người mẫu, chụp sản phẩm theo hợp đồng với khách: ai là chủ sở hữu quyền, ai được đòi gỡ và quyền đối với hình ảnh cá nhân
Nhiếp ảnh gia chụp theo đơn đặt hàng thường nghĩ ảnh vẫn là của mình, nhưng Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ nói khác. Bài này tách ba chủ thể: khách đặt chụp, nhiếp ảnh gia và người mẫu, xem ai nắm quyền gì, ai đứng ra đòi gỡ khi ảnh bị dùng trái phép và hợp đồng nên ghi gì.
Với ảnh chụp theo hợp đồng, nếu hai bên không thoả thuận khác, khách đặt chụp là chủ sở hữu quyền tài sản và quyền công bố, còn nhiếp ảnh gia vẫn là tác giả, giữ quyền đặt tên, đứng tên và bảo vệ sự toàn vẹn của ảnh. Người mẫu không có quyền tác giả với bức ảnh nhưng có quyền đối với hình ảnh của mình theo Điều 32 Bộ luật Dân sự. Ba chủ thể, ba loại quyền, và khi ảnh bị dùng trái phép thì mỗi người đòi gỡ trên căn cứ riêng.
Luật mặc định nghiêng về phía khách đặt chụp
Nhiều nhiếp ảnh gia tin rằng "ảnh mình chụp thì mình giữ bản quyền, khách chỉ được dùng". Luật Việt Nam mặc định ngược lại. Khoản 2 Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ (hợp nhất 2026): tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Khoản 1 cùng điều áp dụng tương tự cho tổ chức giao nhiệm vụ cho nhân viên của mình.
Điều 20 là toàn bộ quyền tài sản: sao chép, phân phối, truyền đạt đến công chúng, làm tác phẩm phái sinh... Khoản 3 Điều 19 là quyền công bố tác phẩm. Nghĩa là nếu hợp đồng chụp chỉ ghi "chụp bộ ảnh sản phẩm, giá bao nhiêu, giao bao nhiêu ảnh", khách là người quyết định ảnh được sao chép, đăng tải ở đâu, kể cả khi họ chỉ nhận vài chục tấm đã chỉnh.
Điều nhiếp ảnh gia vẫn giữ là quyền nhân thân không gắn với Điều 20 và khoản 3 Điều 19, tức là: đặt tên cho tác phẩm (khoản 1 Điều 19), đứng tên thật hoặc bút danh và được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng (khoản 2), bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc, sửa đổi, cắt xén gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả (khoản 4). Các quyền này được bảo hộ vô thời hạn (khoản 1 Điều 27).
Ba chủ thể, ba loại quyền
| Chủ thể | Quyền nắm giữ (khi không có thoả thuận khác) | Căn cứ | Đòi gỡ được khi nào |
|---|---|---|---|
| Khách đặt chụp (thương hiệu, cửa hàng) | Quyền tài sản và quyền công bố với bộ ảnh | Khoản 2 Điều 39, Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ | Bất kỳ ai sao chép, đăng tải ảnh không được phép |
| Nhiếp ảnh gia | Quyền nhân thân: đặt tên, đứng tên, toàn vẹn tác phẩm | Khoản 1, 2, 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ | Ảnh bị dùng mà mạo danh, nêu sai tên tác giả, hoặc bị xuyên tạc gây hại uy tín |
| Người mẫu | Quyền đối với hình ảnh cá nhân | Điều 32 Bộ luật Dân sự | Hình ảnh bị sử dụng không có sự đồng ý, hoặc vượt phạm vi đã đồng ý |
Sản phẩm trong ảnh (chiếc túi, lọ nước hoa) không tạo thêm quyền tác giả với bức ảnh cho nhà sản xuất sản phẩm. Nhưng nếu sản phẩm mang thiết kế, hoa văn được bảo hộ, việc chụp và dùng ảnh đó trong bối cảnh thương mại lại phải xét thêm quyền của chủ thiết kế, nhãn hiệu.
Quyền đối với hình ảnh của người mẫu
Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 có ba ý chính:
- Khoản 1: cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình; việc sử dụng hình ảnh phải được người đó đồng ý; sử dụng vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ khi các bên có thoả thuận khác.
- Khoản 2: không cần đồng ý khi hình ảnh dùng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, hoặc lấy từ hoạt động công cộng như hội nghị, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật mà không làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín người có hình ảnh.
- Khoản 3: dùng hình ảnh vi phạm thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Toà án buộc người vi phạm thu hồi, tiêu huỷ, chấm dứt việc sử dụng, bồi thường thiệt hại.
Buổi chụp quảng cáo, chụp mẫu cho cửa hàng là mục đích thương mại, không thuộc khoản 2. Vì vậy, dù khách là chủ sở hữu bức ảnh, khách vẫn cần sự đồng ý của người mẫu cho từng mục đích sử dụng. Đây là chỗ tranh chấp hay phát sinh nhất: người mẫu đồng ý cho dùng trên trang bán hàng, sau đó thấy ảnh mình in lên biển quảng cáo ngoài trời hoặc bị chuyển cho một nhãn hàng khác.
Khi ảnh bị bên thứ ba dùng trái phép: ai đứng ra?
Khách là chủ sở hữu: đứng ra chính
Với yêu cầu gỡ trên sàn, mạng xã hội, người có tư cách rõ nhất là chủ sở hữu quyền tác giả. Theo khoản 4 Điều 114 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, hồ sơ cần chứng cứ chủ thể quyền theo Điều 77. Khoản 3 Điều 77 quy định người được chuyển giao quyền phải xuất trình thêm bản gốc hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp đồng liên quan. Với ảnh chụp theo hợp đồng, khách nên nộp kèm hợp đồng dịch vụ chụp ảnh và biên bản giao nhận ảnh, cùng tệp gốc do nhiếp ảnh gia cung cấp. Đây là lý do khách nên yêu cầu nhiếp ảnh gia giao cả tệp gốc độ phân giải đầy đủ hoặc cam kết cung cấp khi có tranh chấp.
Nhiếp ảnh gia: hỗ trợ chứng cứ và tự bảo vệ quyền nhân thân
Nhiếp ảnh gia là người giữ chuỗi ảnh cùng buổi, tệp RAW, ảnh hậu trường — những thứ chứng minh việc tạo ra tác phẩm mạnh nhất. Khi khách khiếu nại, nhiếp ảnh gia thường là người cung cấp các tài liệu này. Ngoài ra, nếu bên vi phạm ghi tên người khác là tác giả, hoặc cắt xén, chế ảnh gây hại uy tín, nhiếp ảnh gia có quyền tự khiếu nại trên căn cứ điểm b và điểm d khoản 1 Điều 66 Nghị định 17/2023 (xâm phạm quyền đứng tên; xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm).
Người mẫu: căn cứ quyền hình ảnh
Người mẫu không phải chủ thể quyền tác giả, nên khiếu nại bản quyền nhân danh người mẫu dễ bị từ chối. Đường đúng của người mẫu là quyền hình ảnh: báo cho khách và nhiếp ảnh gia để chủ sở hữu ảnh khiếu nại bản quyền, đồng thời dùng các kênh báo cáo về quyền riêng tư, mạo danh hình ảnh mà nhiều nền tảng có, và khi cần thì yêu cầu Toà án theo khoản 3 Điều 32 Bộ luật Dân sự.
Ví dụ minh hoạ: một thương hiệu áo dài ở Hà Nội thuê nhiếp ảnh gia và người mẫu chụp bộ sưu tập mới. Vài tuần sau, ảnh xuất hiện trên một gian hàng bán áo nhái. Thương hiệu nộp yêu cầu gỡ kèm hợp đồng chụp và tệp gốc; nhiếp ảnh gia cung cấp các tấm cùng buổi; người mẫu gửi văn bản xác nhận chưa từng đồng ý cho gian hàng kia dùng hình ảnh của mình. Ba lớp chứng cứ khiến bên bán không phản đối được.
Hợp đồng chụp ảnh nên ghi những gì
Vì luật mặc định đã nghiêng về một phía, mọi điều khác đi đều phải viết thành văn. Các điều khoản nên có:
- Chủ sở hữu quyền tài sản: ghi rõ ai sở hữu. Nếu nhiếp ảnh gia muốn giữ quyền và chỉ cấp phép cho khách, phải viết thành "thoả thuận khác" theo Điều 39, nêu phạm vi khách được dùng (kênh, lãnh thổ, thời hạn).
- Quyền dùng để giới thiệu năng lực: nhiếp ảnh gia có được đăng ảnh lên trang cá nhân, hồ sơ năng lực hay dự thi không; từ khi nào (thường sau khi khách công bố).
- Nêu tên tác giả: khách có nghĩa vụ ghi tên nhiếp ảnh gia ở đâu, hình thức nào. Đây là quyền nhân thân của tác giả, hợp đồng chỉ cụ thể hoá cách thực hiện.
- Giao tệp gốc: nhiếp ảnh gia giao tệp gốc hay chỉ giao ảnh đã chỉnh; cam kết cung cấp tệp gốc và ảnh cùng buổi khi khách cần chứng minh quyền.
- Chỉnh sửa ảnh: khách có được tự chỉnh, cắt, ghép chữ không; giới hạn nào để không xâm phạm quyền toàn vẹn tác phẩm. Khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ nói làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng tới quyền toàn vẹn thì còn phải có sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.
- Đồng ý của người mẫu: văn bản riêng do người mẫu ký, ghi mục đích sử dụng, kênh, thời hạn, thù lao, có được chuyển cho bên thứ ba không. Với người mẫu chưa thành niên, nên có thêm chữ ký của cha mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật.
- Xử lý vi phạm từ bên thứ ba: ai đứng ra khiếu nại, ai hỗ trợ cung cấp chứng cứ, chi phí do ai chịu.
Những tình huống hay gặp
| Tình huống | Đánh giá nhanh |
|---|---|
| Nhiếp ảnh gia bán lại ảnh chụp cho khách A sang cho khách B | Nếu A là chủ sở hữu theo Điều 39, việc bán lại là xâm phạm quyền của A; ảnh có người mẫu còn đụng quyền hình ảnh |
| Khách dùng ảnh mà xoá tên nhiếp ảnh gia đã thoả thuận ghi | Xâm phạm quyền được nêu tên của tác giả (khoản 2 Điều 19) |
| Khách in ảnh người mẫu lên bao bì dù chỉ được đồng ý dùng trên mạng | Vượt phạm vi đồng ý; người mẫu có căn cứ theo Điều 32 Bộ luật Dân sự |
| Bên thứ ba lấy ảnh làm ảnh bán hàng | Khách (chủ sở hữu) khiếu nại chính; nhiếp ảnh gia hỗ trợ chứng cứ; người mẫu bổ sung căn cứ quyền hình ảnh |
| Nhiếp ảnh gia là nhân viên chụp cho công ty | Khoản 1 Điều 39: công ty là chủ sở hữu quyền tài sản và quyền công bố, trừ khi có thoả thuận khác |
Lời khuyên cho từng bên
- Nhiếp ảnh gia: đừng mặc định mình giữ bản quyền. Nếu muốn giữ, ghi vào hợp đồng và báo giá theo phạm vi cấp phép. Luôn lưu tệp gốc và ảnh cùng buổi, vì khách sẽ cần bạn khi có vi phạm.
- Khách đặt chụp: yêu cầu tệp gốc hoặc cam kết hỗ trợ chứng cứ; giữ hợp đồng, biên bản giao nhận; xin văn bản đồng ý của người mẫu đúng phạm vi bạn định dùng.
- Người mẫu: đọc kỹ văn bản đồng ý, chú ý mục đích, kênh, thời hạn; giữ một bản; khi thấy ảnh bị dùng sai phạm vi, báo bên đặt chụp trước.
Hợp đồng chụp ảnh giá trị lớn, chụp cho chiến dịch quảng cáo nhiều kênh hay có người mẫu nổi tiếng nên được luật sư rà soát trước khi ký.
Câu hỏi thường gặp
Khách trả tiền chụp thì ảnh thuộc về khách hay nhiếp ảnh gia?
Theo khoản 2 Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ, bên giao kết hợp đồng với tác giả là chủ sở hữu quyền tài sản và quyền công bố, trừ khi có thoả thuận khác. Nếu hợp đồng không ghi gì, khách thường là chủ sở hữu; nhiếp ảnh gia vẫn là tác giả và giữ quyền được đứng tên.
Nhiếp ảnh gia có được đăng ảnh chụp cho khách lên trang cá nhân để giới thiệu không?
Chỉ chắc chắn được khi hợp đồng cho phép. Nếu khách là chủ sở hữu quyền và hợp đồng không giữ lại quyền giới thiệu cho nhiếp ảnh gia, việc tự đăng có thể bị coi là khai thác không được phép. Ngoài ra, ảnh có người còn cần sự đồng ý của người trong ảnh theo Điều 32 Bộ luật Dân sự.
Người mẫu có tự đòi gỡ ảnh khi thấy ảnh mình bị cửa hàng khác dùng không?
Có, nhưng trên căn cứ quyền đối với hình ảnh, không phải quyền tác giả. Điều 32 Bộ luật Dân sự yêu cầu việc sử dụng hình ảnh phải được người đó đồng ý và cho phép yêu cầu Toà án buộc chấm dứt sử dụng. Khiếu nại bản quyền trên nền tảng thì chủ sở hữu ảnh đứng ra sẽ thuận hơn.
Người mẫu đã ký đồng ý cho dùng ảnh, sau này có rút lại được không?
Phụ thuộc nội dung văn bản đồng ý: phạm vi, thời hạn, mục đích. Nếu bên sử dụng vượt ra ngoài phạm vi đó, người mẫu có căn cứ phản đối. Vì vậy văn bản đồng ý nên ghi rõ mục đích, kênh, thời hạn sử dụng.
Bài viết mang tính thông tin, dẫn theo văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm cập nhật (03/11/2026); không thay thế ý kiến tư vấn của luật sư cho vụ việc cụ thể.